U mô thừa vú (Breast hamartoma)

0
202

U mô thừa vú (Breast hamartoma), hay cũng được biết là u sợi tuyến mỡ vú hoặc vú trong vú (Breast within breast – đặc điểm trên nhũ ảnh) là tổn thương lành tính của tuyến vú. U mô thừa vú thường được phân loại là những u lành tính hiếm gặp với tỉ lệ mắc khoảng 0,1 – 0,7% [1].

Dịch tễ học: thường xuất hiện ở phụ nữ > 35 tuổi

Đặc điểm lâm sàng: U mô thừa vú thường không triệu chứng hoặc biểu hiện một khối mềm, không đau. Chúng cũng biểu hiện lớn tuyến vú một bên và không thể sờ thấy được khối khu trú.

Bệnh học:

U mô thừa vú biểu hiện sự tăng sinh lành tính của mô sợi, mô tuyến và mô mỡ (vì vậy Fibro – adeno – lipoma) được bao quanh bởi bao mô liên kết mỏng. Tất cả các thành phần này được thấy ở mô vú bình thường, điều này lý giải tại sao những tổn thương này được xem như u mô thừa.

Về mặt đại thể: u mô thừa vú lớn hơn và mềm hơn một chút so với bướu sợi tuyến điển hình. U mô thừa có giới hạn rõ, hơi trắng – hồng và giống thịt (fleshy), với các đảo mỡ vàng.

Mô bệnh học: chúng biểu hiện dấu đẩy bờ (pushing boders) với vỏ bao giả, và bao gồm sự kết hợp của số lượng thay đổi các thành phần mô đêm và biểu mô.

Đặc diểm hình ảnh học:

Nhũ ảnh: Khối hình bầu dục, hình tròn, giới hạn rõ được bọc xung quanh bởi một vỏ mỏng. Bao gồm đậm độ của mô mỡ lẫn mô mềm. Mô tả kinh điển điển: biểu hiện “vú trong vú”

Siêu âm: Vì chúng giống mô vú bình thường nên ranh giới thường khó nhận ra. Chúng có thể biểu hiện tổn thương dạng đặc, giới hạn rõ với không có vi vôi hóa bên trong. Hầu hết hồi âm là hỗn hợp gồm những phần hồi âm dày và hồi âm kém. Các tổn thương này mềm và đè ép dễ dàng.

 

Chẩn đoán phân biệt: Chẩn đoán phân biệt u mô thừa thường không phức tạp, bởi biểu hiện hình ảnh học rất điển hình. Trong các trường hợp hiếm gặp, một chẩn đoán phân biệt có thể kể đến các tổn thương giới hạn rõ:

  • Bướu sợi tuyến / bướu diệp thể: không có thành phần mỡ bên trong.
  • U mỡ: thường có mỡ đồng nhất, với mô mềm rất ít

Tiên lượng và thái độ:

Mặc dù hầu hết các trường hợp không ghi nhận có u tái phát, u mô thừa vú đôi khi tái phát sau cắt bỏ tại chỗ. Thêm vào đó, ung thư biểu mô dạng ống hay tiểu thùy, tại chỗ hay xâm nhập một cách ngẫu nhiên ở các trường hợp u mô thừa vú thỉnh thoảng được báo cáo. Vì vậy, phẫu thuật u mô thừa vú được khuyến cáo khi chẩn đoán không chắc chắn hoặc bệnh nhân thấy khó chịu. Chẩn đoán tiền phẫu u mô thừa vú chính xác có thể tránh phẫu thuật không cần thiết và hạn chế tỉ suất phẫu thuật, sự lo lắng của bệnh nhân và các chi phí chăm sóc sức khỏe. Mặc dù xét nghiệm chọc hút tế  bào bằng kim nhỏ (FNA) và sinh thiết lõi (core needle biopsy) chính xác để chẩn đoán hầu hết các bệnh về vú, tuy nhiên xét nghiệm tế bào học và sinh thiết lõi có thể không chính xác, không kết luận được, hoặc không đặc hiệu trong  chẩn đoán u mô thừa vú. Các đặc tính trên nhũ ảnh của u mô thừa vú được mô tả rõ ràng, một số tác giả đề nghị rằng u này có thể chẩn đoán chính xác bằng nhũ ảnh, vì vậy, sự cắt bỏ bằng phẫu thuật là không cần thiết. Tuy nhiên, hầu hết phụ nữ Trung Quốc (giống Việt Nam) có mô vú dày hơn và nhỏ hơn so với phụ nữ phương tây. Siêu âm vú thường được sử dụng khi chẩn đoán các tổn thương vú ở phụ nữ Trung Quốc vì  độ nhạy của nhũ ảnh bị giới hạn ở phụ nữ có mô vú dày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Chao T. C., Chao H. H., Chen M. F. (2007), “Sonographic features of breast hamartomas”. J Ultrasound Med,  26  (4), pp. 447-52; quiz 453.

2. https://radiopaedia.org/articles/breast-hamartoma

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here