Các Đặc Điểm Siêu Âm Của Khối U Mô Mềm Lành Tính. Chẩn đoán và Chẩn Đoán Phân Biệt.

   Trong thực hành hằng ngày, một số bệnh nhân có các khối (lumps and bumps) khác nhau ở khắp cơ thể có triệu chứng hoặc không triệu chứng. Siêu âm xuất hiện như một công cụ hình ảnh hữu ích cung cấp thông tin lâm sàng cần thiết để đánh giá các tình trạng bệnh lý mô mềm. Siêu âm là phương thức hình ảnh tốt giúp xác định bản chất của tổn thương dạng khối (dạng nang hoặc đặc) và sự liên quan về mặt giải phẫu của các cấu trúc kế cận. Các khối (Masses) cũng có thể được đặc trưng về kích thước (size), hình dạng (shape), số lượng (number), độ hồi âm (echotexture) và sự tưới máu (vascularity) trên siêu âm Doppler năng lượng (power Doppler) và Doppler màu (colour Doppler). Bản chất động của siêu âm có thể cho thấy khả năng bị đè ép của tổn thương và sự liên quan với các cấu trúc chuyển động kế cận, ví dụ như gân (tendons).

*Bướu mỡ (Lipoma)

   Bướu mỡ là khối mô mềm phổ biến nhất. Vị trí thường gặp của nó là ở dưới da (subcutaneous) (Hình 1), tuy nhiên bướu mỡ cũng có thể thấy trong cơ (intramuscular) (Hình 2, 3, 4) và trong cân mạc (intrafascial) (Hình 5) nhưng ít gặp hơn. Bướu mỡ có thể thấy ở nhiều vị trí khác nhau, có thể đơn độc (solitary) hoặc nhiều khối và thường không gây đau. Bướu mỡ thường có vỏ bao với giới hạn rõ, tuy nhiên một tỷ lệ đáng kể lại có giới hạn không rõ.

Hình 1. Tổn thương tăng hồi âm trong mô mềm dưới da

Hình 1. Tổn thương tăng hồi âm trong mô mềm dưới da, không có bất kỳ sự tưới máu nào, phù hợp với bướu mỡ dưới da (subcutaneous lipoma). Ghi nhận trục của tổn thương song song với bề mặt da.

Hình 2. Mặc dù hình ảnh mặt cắt dọc gợi ý bướu mỡ nằm trong cân mạc của cơ (intrafascial lipoma), hình ảnh mặt cắt ngang cho thấy tổn thương nằm trong cơ.

Hình 3. Bướu mỡ kích thước lớn nằm trong cơ (intramuscular lipoma) của đầu xa cơ nhị đầu có tăng tưới máu nhẹ.

Hình 4. Cùng một bệnh nhân với hình 3. Hình ảnh MRI theo thứ tự trên xung T1W và STIR cho thấy rõ bản chất mỡ của tổn thương.

Hình 5. Bướu mỡ trong cân mạc của cơ (Intrafascial lipoma) không có sự phân bố mạch máu nằm tại hố khuỷu (antecubital fossa). Mặt cắt trục dọc cho thấy rõ các dải tăng âm của cân mạc xung quanh bướu mỡ.

Trên siêu âm, bướu mỡ thường hơi tăng âm (hyperechoic) so với mô mỡ kế cận, tuy nhiên cũng có thể đồng âm (isoechoic) hoặc giảm âm (hypoechoic) tùy thuộc vào tỷ lệ thành phần mô liên kết và các bề mặt phản hồi âm khác nhau bên trong khối. Hầu hết bướu mỡ là vô mạch (avascular) trên siêu âm Doppler, đặc điểm này cho thấy nó là một khối lành tính. Bướu mỡ dưới da (Subcutaneous lipomata) thường có thể được nén lại khi đè ép bằng đầu dò nhưng bướu mỡ nằm sâu thì có thể không nén lại được và trong một số trường hợp thì MRI là cần thiết để đánh giá thêm, đặc biệt đối với các khối có kích thước lớn hơn 10 cm (Hình 6).

Hình 6. Bệnh nhân biểu hiện lâm sàng với hội chứng chèn ép dây thần kinh gian cốt trước (anterior interosseous nerve). Hình ảnh X-Quang, siêu âm và MRI cho thấy bướu mỡ nằm sâu, ở khoang trước của cẳng tay (forearm) nhiều khả năng gây chèn ép dây thần kinh gian cốt trước.

*Tổn thương dạng nang (Cystic lesions)

   Tổn thương dạng nang như nang hạch (ganglion cysts), nang bao hoạt dịch (synovial cysts), nang bã (sebaceous cysts), nang biểu bì (epidermal cysts) là các tổn thương thường gặp đứng thứ hai. Các nang được lót bởi mô hoạt dịch (synovial tissue) thường thấy ở các vị trí đặc trưng và có thể thông với khoang khớp (joint space).

1. Nang Baker (Baker’s cyst)

   Đặc trưng của nang Baker (Hình 7) là nằm mặt trong của hố khoeo và biểu hiện trên siêu âm là khối dạng nang hồi âm trống, giới hạn rõ, đường bờ bao quanh tròn và trơn láng, thường có nguồn gốc rõ ràng nằm giữa đầu trong gân cơ bụng chân (gastrocnemius) và gân cơ bán màng (semimembranosus) và cổ nang thông với khớp gối. Nang Baker có biến chứng (ví dụ: xuất huyết hoặc viêm bao hoạt dịch trước đó) có thể biểu hiện hồi âm không đồng nhất do mảnh vụn (debris), sự dày lên của bao hoạt dịch, phân vách và các thể bong tróc (loose bodies) có hồi âm. Nang Baker bị vỡ cho thấy đường bờ ở phần dưới không đều, thường nhọn ra mà không có dạng tròn, kèm theo dịch hồi âm kém lan dọc theo các mô mềm đoạn xa. Thông thường, bản thân nang sẽ không còn được nhìn thấy rõ nữa; khi đó, dấu hiệu duy nhất chứng minh nang Baker đã vỡ chính là phần dịch lan dọc ra phần xa dọc bắp chân.

Hình 7. Nang Baker: Mặt cắt dọc và ngang cho thấy tổn thương dạng nang giới hạn rõ có nguồn gốc nằm giữa gân cơ bán màng và đầu trong gân cơ bụng chân. Các vách ngăn mỏng, thành dày nhẹ và dịch bên trong có hồi âm được ghi nhận.

2. Nang hạch (Nang bao hoạt dịch) (Ganglion cysts)

   Nang hạch (Nang bao hoạt dịch) có thể xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau ở cổ tay, bàn tay, cổ chân, bàn chân, khuỷu, gối, vai, háng. Cổ tay và bàn tay thường bị ảnh hưởng nhiều hơn. Nang hạch ở mặt mu cổ tay là khối mô mềm ở tay thường gặp nhất, nằm ở phần nông so với dây chằng thuyền nguyệt (scapholunate ligament). Nang hạch ở mặt gan cổ tay thường nằm ở phía mặt xương quay của cổ tay, thường xuất phát từ khớp thuyền thang (scaphotrapezium joint) và lan rộng nằm giữa động mạch quay (radial artery) và gân cơ gấp cổ tay quay (flexor carpi radialis tendon) (Hình 8). Các đặc điểm siêu âm điển hình là một khối đa thùy giới hạn rõ, hình bầu dục hoặc tròn, hồi âm trống hoặc hồi âm kém. Hầu hết vùng cổ nang hồi âm trống thường được thấy thông với khoang khớp. Nang hạch ở bao gân (Tendon sheath ganglion cysts) (Hình 9) là khối cứng di động xuất phát từ lớp trong cùng của bao gân.

Hình 8. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler, mặt cắt ngang và dọc của nang hạch (nang bao hoạt dịch) ở mặt gan cổ tay (Volar ganglion)cho thấy sự liên quan của nang hạch với động mạch quay (radial artery-RA) và gân cơ gấp cổ tay quay (flexor carpi radials tendon-FCR) cũng như đầu xa của xương quay (distal radius-RAD) và xương thuyền (scaphoid bone-SC).

Hình 9. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler mặt cắt ngang và dọc biểu hiện tổn thương dạng nang có giới hạn rõ mà không có mạch máu bên trong nằm ngang mức đốt giữa của ngón tay (mid phalanx) sát bao gân gấp. Nang hạch ở bao gân.

3. Nang bã (Sebaceous cysts)

   Nang bã (Hình 10) biểu hiện dưới dạng khối giảm âm hình bầu dục hoặc hình cầu ở dưới da với các thành phần có hồi âm bên trong và tăng âm phía sau. Một phần nhỏ của nang nhô ra ở phần nông đi vào lớp biểu bì tương ứng với lỗ mở nhỏ của chúng trên bề mặt da. Độ hồi âm bên trong có thể thay đổi tùy thuộc vào sự hydrat hóa keratin, thành phần protein và vi vôi hóa. Nang bã không có mạch máu phân bố bên trong trên hình ảnh Doppler.

Hình 10. Nang bã. Tổn thương dạng nang có giới hạn rõ với thành phần bên trong tăng âm nhẹ và tăng âm phía sau nằm trong mô dưới da. 

*Các tổn thương viêm (Inflammatory lesions):

Các tổn thương viêm như viêm bao hoạt dịch (bursitis), u hạt do dị vật (foreign body granulomata), áp xe (abscesses) và tràn dịch khớp (joint effusion) liên quan đến nhiễm trùng huyết (sepsis) hoặc viêm màng hoạt dịch (synovitis) do các bệnh lý khớp do viêm (inflammatory arthropathies), hạch bạch huyết phì đại (enlarged lymph nodes) cũng là các bất thường thường gặp có thể biểu hiện dưới dạng sưng mô mềm.

1. Viêm bao hoạt dịch (Inflammed bursae = bursitis)

   Viêm bao hoạt dịch (Bursitis) thường biểu hiện với tụ dịch khu trú và dày thành màng hoạt dịch trong bao hoạt dịch căng phồng lên, dịch này di động bên trong khi đè ép bằng đầu dò siêu âm và tăng âm phía sau. Tăng tưới máu (hyperaemia) mô mềm trên Doppler là đặc điểm kèm theo. Dày thành với phì đại màng hoạt dịch (synovial hypertrophy) có tăng tưới máu trên Doppler. Vách ngăn và thành phần có hồi âm bên trong cũng có thể được thấy. Các trường hợp điển hình là viêm bao hoạt dịch mỏm khuỷu (Olecranon bursitis) (Hình 11), viêm bao hoạt dịch nhị đầu – quay (bicipitoradial bursitis) (Hình 12, 13) và viêm bao hoạt dịch trước bánh chè (prepatellar bursitis) (Hình 14) với biểu hiện sưng nề (swellings) vùng mỏm khuỷu, hố khuỷu (antecubital fossa) và ½ dưới của xương bánh chè.

Hình 11. Vùng sưng to trên mỏm khuỷu. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler trên mặt cắt ngang của viêm bao hoạt dịch mỏm khuỷu. Bao hoạt dịch mỏm khuỷu biểu hiện dày lên kèm tràn dịch và tăng tưới máu.

Hình 12. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của tụ dịch có các vách ngăn bên trong (lobulated fluid collection) với tăng tưới máu ngoại vị nằm dưới đầu xa gân cơ nhị đầu. Viêm bao hoạt dịch nhị đầu – quay (Bicipitoradial bursitis).

Hình 13. Hình ảnh siêu âm và MRI cho thấy bao hoạt dịch nhị đầu –  quay căng phồng xung quanh đầu xa gân cơ nhị đầu.

Hình 14. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler mặt cắt dọc và ngang biểu hiện sự dày lên rõ rệt của bao hoạt dịch trước bánh chè với ổ tụ dịch nhỏ và tăng tưới máu nhẹ. Viêm bao hoạt dịch trước bánh chè (Prepatellar bursitis).

2. U hạt do dị vật (Foreign bodies granulomata)

   Dị vật (Hình 15) thường biểu hiện dưới dạng cấu trúc tăng âm có bóng lưng phía sau (posterior acoustic shadowing) hoặc xảo ảnh đa âm phản hồi (reverberation artefact), tùy thuộc vào bản chất của chúng. Thông thường dị vật được bao quanh bởi viền giảm âm, đại diện cho sự phù nề phản ứng và mô hạt. Tăng tưới máu (Hypervascularity) được thấy trên Doppler. Nếu bỏ sót dị vật có thể dẫn đến hình thành u hạt, nhiễm trùng mô mềm thứ phát với sự hình thành ổ áp xe, rò (fistula), viêm màng hoạt dịch bao gân sinh mủ (purulent tenosynovitis) hoặc thậm chí viêm khớp nhiễm trùng (septic arthritis).

Hình 15. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler. Dị vật kim loại tăng âm được thấy, tạo ra khối viêm (inflammatory mass) có tăng tưới máu.

3. Áp xe (Abscesses)

   Ổ áp xe (Hình 16) không đều, thường là ổ tụ dịch giảm âm, chứa các mảnh vụn (mủ) tăng âm thay đổi. Mức dịch – dịch có thể được thấy. Tùy thuộc vào thành phần bên trong, ổ áp xe có thể tăng âm, với lực đè ép đầu dò nhẹ cho thấy dịch có hồi âm di chuyển bên trong và giúp xác định bản chất dạng nang của chúng. Siêu âm Doppler cho thấy tăng tưới máu trong thành áp xe và mô xung quanh. Siêu âm hướng dẫn chọc hút có thể được yêu cầu cho chẩn đoán và giúp lựa chọn điều trị kháng sinh đúng cách.

Hình 16. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của ổ áp xe (abscess) và viêm mô tế bào (cellulitis) ở mặt sau khuỷu tay. Ghi nhận các vách ngăn dày và thành phần có hồi âm bên trong.

4. Hạch phì đại (Enlarged lymph nodes)

   Hạch phì đại (Hình 17) có thể biểu hiện giống khối u ở phần nông. Chúng thường biểu hiện dưới dạng khối đặc giảm âm hình bầu dục với rốn hạch tăng âm ở trung tâm và tưới máu vùng rốn trên siêu âm Doppler. Sự phân biệt ít rõ ràng giữa vùng vỏ hạch giảm âm (hypoechoic cortex) và rốn hạch tăng âm (hyperechoic hilum), cùng với việc tăng kích thước trục ngắn và mất kiểu dòng chảy mạch máu đặc trưng, có thể thấy trong các tình trạng viêm nhiều, lymphoma hoặc do sự thâm nhiễm của khối u khác. Trong những trường hợp như vậy, sự khác biệt đáng tin cậy không thể thu được khi chỉ dựa vào đặc điểm siêu âm.

Hình 17. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của tổn thương giảm âm, có giới hạn rõ ở bệnh nhân bị viêm hạch bạch huyết (lympadenitis), phù hợp với hạch bạch huyết viêm phì đại (enlarged inflamed lymph node). Ghi nhận mạch máu ở trung tâm rốn hạch.

5. Tràn dịch khớp (Joint effusion)

   Tràn dịch khớp liên quan đến nhiễm trùng (infection) (Hình 18) hoặc các bệnh lý khớp do viêm (inflammatory arthropathies) (Hình 19, 20) có thể biểu hiện dưới dạng sưng nề khu trú và có thể dễ dàng phát hiện trên siêu âm với các ngách căng phồng chứa đầy dịch nằm ở vùng ngoại vi của khớp.

Hình 18. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của tràn dịch khớp khuỷu tay (elbow joint effusion) với thành phần bên trong có hồi âm hỗn hợp, được chứng minh là có mủ (pus) sau khi chọc hút (aspiration).

Hình 19. Siêu âm ở bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis) đã được chẩn đoán trước đó. Ban đầu chẩn đoán là nốt thấp (Rheumatoid nodule). Tuy nhiên, siêu âm cho thấy ngách trong khớp bị giãn ra chứa dịch đặc (viscous effusion). Khi đè ép bằng đầu dò, dịch này sẽ di chuyển ngược lại vào trong khoang khớp.  

Hình 20. Cùng một bệnh nhân với Hình 19. MRI cho thấy tràn dịch trong ngách trước của khớp. Ghi nhận nhiều thể dạng hạt gạo (rice bodies) nằm trong dịch.

6. Hạt Tophi trong bệnh Gout (Gouty tophi)

   Hạt Tophi (Hình 21) là sự kết thành đám (conglomerates) mô mềm của tinh thể axit uric, có thể xuất hiện ở các vùng khác nhau của cơ thể. Bàn tay, bàn chân và khuỷu tay là vị trí hay gặp. Khi kiểm tra bằng siêu âm, hạt Tophi biểu hiện dưới dạng các khối không đồng nhất (heterogeneous masses) chứa các vùng giảm âm liên quan đến chất lỏng dạng phấn (chalky liquid material) được bao quanh bởi mô tăng âm. Chúng không cho thấy sự tăng tưới máu nhiều. Hiếm khi có sự lắng đọng canxi trong khối kèm có hoặc không có giảm âm phía sau.

Hình 21. Hình ảnh mặt cắt dọc và ngang của khuỷu tay ở bệnh nhân đã được chẩn đoán bị Gout. Khối sưng mô mềm được ghi nhận phía sau mỏm khuỷu (olecranon) có hồi âm hỗn hợp, các đốm tăng âm và tăng tưới máu. Hạt Tophi trong Gút (Gouty tophus).

*Tổn thương dạng đặc (Solid lesions):

1. U tế bào biểu mô vôi hóa (Pilomatrixoma)

   U tế bào biểu mô vôi hóa (Hình 22) là khối u bề mặt lành tính hiếm gặp của nang lông (hair follicles). Trên siêu âm, chúng biểu hiện dưới dạng khối tăng âm kèm bóng lưng phía sau, cho thấy các mảnh vụn vôi hóa (calcific debris) hoặc có sự cốt hóa (ossification) bên trong. Số lượng vôi hóa có thể thay đổi. Viền giảm âm (hypoechoic rim) có thể được thấy. Trên siêu âm Doppler, có thể thấy dòng chảy mạch máu ở ngoại vi.

Hình 22. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của mặt bên khuỷu tay ở bệnh nhân trẻ tuổi cho thấy một khối có giới hạn rõ với các chấm vôi hóa rải rác và bóng lưng phía sau. Ghi nhận là có tăng tưới máu nhẹ ở ngoại vi. Phẫu thuật chứng minh là u tế bào biểu mô vôi hóa (Pilomatrixoma).

2. Bệnh lý các khối u xơ (u sợi) (Fibromatosis)

   U xơ (u sợi) gan bàn chân (Plantar fibromatosis) (Hình 23) là sự tăng sinh sợi dạng nốt khu trú của cân gan chân (plantar fascia) biểu hiện với đau hoặc nốt giảm âm dưới da ít đau ở mặt trong của phần giữa bàn chân (midfoot). Các triệu chứng có thể nặng hơn khi đi bộ.

   U xơ (u sợi) gan bàn tay (Palmar fibromatosis) (còn được gọi là bệnh Dupuytren) biểu hiện dưới dạng nốt giảm âm dày lên khu trú của cân gan tay (palmar aponeurosis), nằm giữa da và các gân gấp. Chúng có thể tiến triển thành dây xơ (fibrous cords) gây co rút gập (flexion contracture). Nốt xơ có đường bờ sắc nét và giảm âm, không có bất kỳ mạch máu nào bên trong (Hình 24).

Hình 23. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler cho thấy nốt giảm âm vô mạch liên quan mật thiết với các sợi phía trong của cân gan chân. U xơ (u sợi) gan chân (Plantar fibroma).

Hình 24. Hình ảnh mặt cắt dọc và ngang của u xơ (u sợi) cân gan tay (palmar fibroma) nằm giữa gân gấp ngón 4 và da. 

3. U dây thần kinh Morton (Morton’s neuroma)

   U dây thần kinh Morton (Hình 25) là tình trạng giả u (pseudotumours), điển hình thường xảy ra ở phụ nữ trung niên và được quan sát thấy nằm giữa xương bàn chân thứ 2 và thứ 3, ngang mức chỏm xương bàn chân (metatarsal heads). Trên siêu âm, tổn thương đặc trưng bởi một khối giảm âm, không thể đè nắn được, nằm giữa kẽ các xương bàn chân. Việc sờ nắn các kẽ ngón chân và thực hiện các nghiệm pháp động như dấu hiệu ‘tiếng click Mulder’ (Moulder’s click) có thể giúp làm rõ chẩn đoán.

   “Khi thăm khám lâm sàng, đau có thể xuất hiện khi thực hiện nghiệm pháp Moulder: Một tay siết chặt hai đầu xương bàn chân vào nhau, tay còn lại ấn mạnh vào khoảng giữa các ngón chân. Trái với hội chứng đau xương bàn chân, vùng nhạy cảm thường nằm trên đầu xương bàn chân; trong u dây thần kinh Morton, đau chỉ khu trú ở mặt gan chân của khoảng giữa 2 ngón chân và dị cảm lan dọc 2 ngón chân bị ảnh hưởng.”

Hình 25. U dây thần kinh Morton (Morton’s neuroma). Tổn thương giảm âm có giới hạn rõ, không đè ép được tại khoảng gian đốt thứ 3 (3rd web space). Bệnh nhân biểu hiện với dấu Moulder dương tính.

4. U thần kinh (Neurogenic tumors)

   U thần kinh (Hình 26, 27, 28) cũng có thể biểu hiện như khối sưng khu trú dưới da, hầu hết thường gặp ở các chi (chân, tay). Hai loại mô học chính là schwannomas (u bao dây thần kinh) và neurofibromas (u sợi thần kinh). Siêu âm chẩn đoán các khối u này dựa trên biểu hiện khối đặc giảm âm liên tục trực tiếp với dây thần kinh ở đầu gần và đầu xa (dấu hiệu đuôi chuột – tail sign). Chúng có thể biểu hiện tăng âm phía sau (acoustic enhancement) và dòng chảy mạch máu thay đổi trên Doppler. Schwannomas (u bao dây thần kinh) thường lệch tâm (eccentric) với trục dây thần kinh, trong khi neurofibromas (u sợi thần kinh) đồng tâm (concentric) hơn và liên quan chặt chẽ với dây thần kinh gốc. Có thể thấy các thay đổi dạng nang trong u liên quan đến sự tích tụ chất nền nhầy (myxoid matrix).

Hình 26. Schwannoma (u bao dây thần kinh) của dây thần kinh trụ (ulnar nerve) đoạn gần khuỷu tay. Hình ảnh mặt cắt dọc của khối giảm âm liên tục với dây thần kinh (đuôi thần kinh – neural tail) và tăng âm phía sau. 

Hình 27. Cùng một bệnh nhân với hình 26. MRI mặt cắt coronal trên xung T1W, STIR và xung T1W sau tiêm thuốc tương phản cho thấy rõ u bao dây thần kinh (nerve sheath tumour) tăng bắt thuốc liên tục với dây thần kinh trụ.

Hình 28. Schwannoma (u bao dây thần kinh) của dây thần kinh giữa (median nerve).

*Sưng nề sau chấn thương (Post traumatic swelling):

1. Khối máu tụ (Haematoma)

   Khối máu tụ (Hình 29, 30, 31) biểu hiện tùy thuộc vào khoảng thời gian giữa thời điểm chấn thương và lúc siêu âm. Chúng có thể thay đổi từ khối tăng âm bao gồm cục máu đông đặc (solid blood clot) đến một cấu trúc hồi âm trống hoàn toàn (khối máu tụ hóa lỏng hoàn toàn). Một đặc điểm rất hữu ích của khối máu tụ là hoàn toàn không có dòng chảy mạch máu bên trong, trừ khi vẫn còn chảy máu đang hoạt động (active bleeding) tại thời điểm siêu âm. Tiền sử lâm sàng rất quan trọng cho chẩn đoán (chấn thương, thuốc chống đông), vì đôi khi đặc điểm có thể giống với ổ áp xe và chọc hút hoặc xét nghiệm hình ảnh khác được yêu cầu để chẩn đoán.

Hình 29. Hình ảnh mặt cắt dọc và ngang của khối máu tụ hóa lỏng (liquefying haematoma) của cơ nhị đầu. Không thấy mạch máu bên trong.

Hình 30. Bệnh nhân biểu hiện đau mặt trước trong của bắp chân và sưng nề. Không nhớ rõ có chấn thương hay không. Siêu âm trắng đen và Doppler cho thấy khối máu tụ đã tổ chức hóa (organizing haematoma). Ghi nhận có thành phần tăng âm bên trong và tưới máu nhẹ ở ngoại vi.

Hình 31. Cùng một bệnh nhân với hình 30. Hình ảnh MRI trên xung T1W và STIR mặt cắt axial xác định khối máu tụ ở mặt trước trong của bắp chân.

2. Tổn thương Morel-Lavallee (Morel-Lavallee lesion) (Khối tụ dịch bong lóc da-cân)

   Tổn thương Morel-Lavallee (Hình 32) là di chứng của chấn thương lóc da kín, xảy ra giữa lớp mỡ dưới da và lớp cân cơ sâu bên dưới, thường nằm ở mặt ngoài của vùng hông. Trên siêu âm, tổn thương biểu hiện dưới dạng ổ tụ dịch giảm âm hoặc trống âm, có thể đè ép được, không có dòng chảy mạch máu bên trong và có thể chứa các hạt mỡ tăng âm. Trong những trường hợp này, tiền sử lâm sàng có thể rất hữu ích.

Hình 32. Bệnh nhân xuất hiện một khối trên mấu chuyển (trochanter) bên trái. Tiền sử trước đó có chấn thương (ngã từ trên ngựa xuống). Ổ tụ dịch giảm âm có giới hạn rõ, bờ đều, không có mạch máu bên trong. Biểu hiện cùng với tiền sử của bệnh nhân và vị trí điển hình là gợi ý của tổn thương Morel-Lavallee.

3. Hoại tử mỡ (Fat necrosis)

   Trong trường hợp đụng giập (contusion) sau chấn thương, hoại tử mỡ có thể xuất hiện (Hình 33), biểu hiện dưới dạng vùng tăng âm chứa các khoảng giảm âm liên quan đến mỡ bị nhồi máu (infarcted fat).

Hình 33. Hình ảnh mặt cắt ngang và dọc cho thấy sự thay đổi tăng âm không đồng nhất của mỡ dưới da. Bệnh nhân có tiền sử chấn thương trước đó. Hoại tử mỡ sau chấn thương.

4. Rách gân (Tendon tear)

   Chấn thương gân (ví dụ: gân nhị đầu (Hình 34)) có hoặc không kèm theo khối máu tụ (haematomas) hoặc khối tụ dịch huyết thanh (seromas) có thể biểu hiện dưới dạng sưng nề khu trú hoặc lan tỏa, đại diện cho đầu gân sưng nề, co rút. Tiền sử lâm sàng là điển hình trong những trường hợp này.

Hình 34. Hình ảnh mặt cắt dọc và ngang của gân nhị đầu bị rách ở bệnh nhân nam có nhập viện với sưng nề gần khuỷu tay. Gân co rút lại cùng với tụ dịch lượng trung bình được ghi nhận.

5. Dị dạng mạch máu (Vascular malformation)

   Dị dạng mạch máu (Vascular malformations) và u máu (haemangioma) cũng có thể biểu hiện dưới dạng khối mô mềm. U máu (Hình 35) là khối u có lớp lót  nội mô (endothelial lined neoplasms), chủ yếu xảy ra thời thơ ấu và có thể được phân loại thành u máu thể mao mạch (capillary) và u máu thể hang (cavernous). Doppler cho thấy tăng tưới máu rõ rệt, chúng có thể tăng âm hoặc giảm âm liên quan đến các mô xung quanh và chúng thường có thể đè ép được vì máu có thể bị đẩy ra các mạch máu bị giãn. Khi hết đè ép bằng đầu dò, Doppler dòng chảy màu sẽ xuất hiện lại khi mạch máu được làm đầy lại. Sỏi tĩnh mạch (Phleboliths) khi có, chúng được thấy dưới dạng ổ tăng âm (echogenic foci) trong tổn thương.

   Dị dạng mạch máu (Hình 36, 37) gồm các mạch máu loạn sản (dysplastic vessels) và được chia thành tổn thương có dòng chảy cao, dòng chảy thấp và dạng mao mạch. Chúng thường được đặc trưng bởi một mạng lưới mạch máu bất thường, nằm xen giữa một động mạch nuôi lớn và một tĩnh mạch dẫn lưu giãn lớn, đôi khi có thể thấy được.

Hình 35. Tổn thương giảm âm tăng tưới máu nằm dưới da có sỏi tĩnh mạch vôi hóa. U máu (Haemangioma).

Hình 36. Khối gồ lên trên ngón trỏ ở bệnh nhân trẻ tuổi. Siêu âm trắng đen, Doppler cho thấy tổn thương giảm âm tăng tưới máu nhiều có một động mạch nuôi và tĩnh mạch dẫn lưu giãn. Dị dạng mạch máu (Vascular malformation).

Hình 37. Bệnh nhân khác bị dị dạng mạch máu (vascular malformation) ở mặt trong đùi. Ghi nhận các kênh mạch máu trên siêu âm trắng đen và bản chất mạch máu và động mạch nuôi xuất phát từ các mô mềm nằm sâu trên Doppler.

Kết luận

Siêu âm có thể hỗ trợ nhiều trong việc phân biệt các khối mô mềm lành tính và cũng giúp chẩn đoán phân biệt các tổn thương ác tính (malignant) với lành tính (benign). Phân loại bằng siêu âm đối với khối mô mềm là phương tiện chính xác để xác định chiến lược điều trị bệnh nhân, đồng thời giúp tối ưu hóa việc sử dụng chỉ định MRI.

Tài liệu tham khảo

  1. Sonographic appearances of benign soft tissue lumps and bumps. Hints and tips for differential diagnosis. I. Katsimilis, C. Lord, R. Kulanthaivelu, V. T. Skiadas; Southampton/UK. ECR 2016. DOI: 10.1594/ecr2016/C-0244.

Người dịch: Bs CKI. Lê Thị Ny Ny – Anhvanyds

 

Bài viết khác cùng chuyên mục:

Chẩn Đoán Phân Biệt Các Khối U Xương (Differential Diagnosis Of Bone Tumors)

Siêu âm các tổn thương khu trú ở gan – Phần 1 (Ultrasound of focal liver lesions – Part 1)

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*