Đặc Điểm Siêu Âm Của Khối U Mô Mềm Lành Tính. Gợi Ý Và Lời Khuyên Cho Chẩn Đoán Phân Biệt. (Sonographic appearances of benign soft tissue lumps and bumps. Hints and tips for differential diagnosis).

1
3479

Tóm tắt

Trong thực hành mỗi ngày, một số bệnh nhân có các khối u gồ lên dưới da ở khắp cơ thể có triệu chứng hoặc không triệu chứng. Siêu âm xuất hiện như một công cụ hình ảnh hữu ích cung cấp thông tin cần thiết cho Bác sĩ lâm sàng để đánh giá các bệnh lý mô mềm. Siêu âm là phương thức hình ảnh tốt giúp xác định bản chất của khối tổn thương (nang hoặc đặc) và các cấu trúc liên quan xung quanh. Các khối cũng được đặc trưng về kích thước, hình dạng, số lượng, độ hồi âm và mạch máu với siêu âm Doppler năng lượng (power Doppler) và màu (colour). Bản chất động của siêu âm có thể chứng minh khả năng đè ép tổn thương và mối quan hệ với các cấu trúc di chuyển liền kề, ví dụ như gân cơ.

Bướu mỡ (Lipoma)

Bướu mỡ là khối mô mềm thường gặp nhất. Thông thường vị trí của nó là dưới da (Hình 1), cũng có thể gặp trong cơ (Hình 2, 3, 4) và trong dải gân (intrafascial) (Hình 5). Nó có thể thấy ở nhiều vị trí khác nhau, có thể đơn độc hoặc nhiều khối và thường không gây đau. Bướu mỡ thường được bọc trong bao có ranh giới rõ, tuy nhiên một tỷ lệ đáng kể có ranh giới không rõ.

Trên siêu âm, bướu mỡ thường hơi tăng âm so với mô mỡ kế cận, tuy nhiên cũng có thể đồng âm hoặc giảm âm, tùy thuộc vào số lượng mô liên kết và các giao diện phản hồi khác bên trong bướu. Hầu hết các bướu mỡ là không có mạch máu trên siêu âm Doppler, đặc điểm này cho thấy nó là một khối lành tính. Bướu mỡ dưới da thường có thể được nén khi đè ép đầu dò nhưng bướu mỡ nằm sâu thì có thể không nén được và trong một số trường hợp, MRI là cần thiết để đánh giá thêm, đặc biệt đối với khối có kích thước lớn hơn 10 cm (Hình 6)

Hình 1. Tổn thương tăng hồi âm trong mô mềm dưới da, không có bất kỳ mạch máu nào, phù hợp với bướu mỡ dưới da. Lưu ý tổn thương song song với trục da.

Hình 2. Mặc dù hình ảnh trục dài là gợi ý của bướu mỡ trong dải gân (intrafascial), hình ảnh trục ngắn cho thấy tổn thương nằm trong cơ.

Hình 3. Bướu mỡ lớn trong cơ của đầu xa cơ nhị đầu với tăng tưới máu nhẹ.

Hình 4. Cùng một bệnh nhân với hình 3. Theo thứ tự T1w và STIR cho thấy rõ bản chất mỡ của tổn thương.

Hình 5. Bướu mỡ trong dải gân không có phân bố mạch máu tại hố trước khuỷu tay. Mặt cắt trục dài cho thấy dải tăng hồi âm của dải gân xung quanh bướu mỡ.

Hình 6. Bệnh nhân biểu hiện lâm sàng với hội chứng chèn ép dây thần kinh gian cốt trước. Xquang, siêu âm và MRI cho thấy bướu mỡ nằm sâu, ở khoang trước của cẳng tay, gây chèn ép dây thần kinh gian cốt trước.

Tổn thương dạng nang (Cystic lesions)

Tổn thương dạng nang như nang hạch (ganglion cysts), nang bao hoạt dịch (synovial cysts), nang bã nhờn (sebaceous cysts), nang biểu bì (epidermal cysts) là phổ biến thứ hai. Các nang được lót bởi mô hoạt dịch, thường được tìm thấy ở các vị trí đặc trưng và có thể thông với ổ khớp.

Nang Baker (Baker’s cyst)

Đặc trưng của nang Baker (Hình 7) là nằm giữa hố khoeo và biểu hiện trên siêu âm với khối nang hồi âm trống, giới hạn rõ, đường bờ bao quanh tròn và nhẵn, thường có nguồn gốc rõ ràng nằm giữa đầu trong gân cơ bụng chân (gastrocnemius) và gân cơ bán màng (semimembranosus) và cổ nang thông với khớp gối. Nang Baker biến chứng (ví dụ: xuất huyết hoặc viêm bao hoạt dịch trước đó) có thể biểu hiện hồi âm không đồng nhất do chất lắng đọng (debris), sự dày lên bao hoạt dịch, vách ngăn và các vật thể bong tróc (loose bodies) có hồi âm. Nang Baker vỡ biểu hiện đường bờ phần cuối thường không đều với dịch hồi âm kém chạy dọc theo các mô mềm ở xa. Thông thường, bản thân nang không biểu hiện vỡ mà dịch chạy dọc theo mô mềm ở xa chứng minh là nang bị vỡ.

Hình 7. Nang Baker: Mặt cắt dọc và ngang cho thấy tổn thương nang giới hạn rõ có nguồn gốc giữa gân cơ bán màng và đầu trong gân cơ bụng chân. Vách ngăn mỏng, thành dày nhẹ và có hồi âm bên trong được ghi nhận.

Nang hạch (Ganglion cysts)

Nang hạch có thể xảy ra ở nhiều vị trí khác nhau ở cổ tay, bàn tay, mắt cá chân, bàn chân, khuỷu, gối, vai, háng. Cổ tay và bàn tay thường bị ảnh hưởng nhiều hơn. Nang hạch ở mặt mu cổ tay thường phổ biến với khối mô mềm nằm ở bề mặt của dây chằng thuyền nguyệt (scapholunate ligament). Nang hạch ở mặt gan cổ tay thường nằm cạnh xương quay tại cổ tay, bắt nguồn từ khớp thuyền thang (scaphotrapezium joint) và kéo dài giữa động mạch quay và gân cơ gấp cổ tay quay (flexor carpi radialis tendon) (Hình 8). Các đặc điểm siêu âm điển hình là một khối xác định rõ, hình bầu dục hoặc tròn, hồi âm trống hoặc hồi âm kém. Hầu hết vùng cổ nang hồi âm trống thường được thấy thông với ổ khớp. Nang hạch ở bao gân (Hình 9) là khối cứng di động xuất phát từ lớp trong cùng của bao gân.

Hình 8. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler, mặt cắt ngang và dọc của nang hạch vùng gan cổ tay biểu hiện mối liên quan của nang hạch với động mạch quay (radial artery-RA) và gân cơ gấp cổ tay quay (flexor carpi radials tendon-FCR) cũng như đầu xa của xương quay (distal radius-RAD) và xương thuyền (scaphoid bone-SC).

Hình 9. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler mặt cắt ngang và dọc biểu hiện tổn thương dạng nang xác định rõ mà không có mạch máu bên trong tại đốt giữa của xương ngón tay (mid phalanx), chỗ bám của gân gấp. Nang hạch ở vỏ bao gân.

Nang bã nhờn (Sebaceous cysts)

Nang bã nhờn (Hình 10) biểu hiện dưới dạng khối giảm âm hình bầu dục hoặc hình cầu ở dưới da với các thành phần có hồi âm bên trong và tăng âm phía sau. Một phần nhỏ bề mặt mở rộng vào lớp trung bì (dermis) tương ứng với lỗ nhỏ của chúng trên da. Độ hồi âm bên trong có thể thay đổi tùy thuộc vào sự hydrat hóa keratin, thành phần protein và vi vôi hóa. Chúng thiếu mạch máu bên trong trên hình ảnh Doppler.

Hình 10. Tổn thương dạng nang xác định rõ với thành phần bên trong tăng âm nhẹ và tăng cường âm phía sau nằm trong mô dưới da. Nang bã nhờn.

Các tổn thương viêm nhiễm (Inflammatory lesions):

Tổn thương viêm nhiễm như viêm bao hoạt dịch (bursitis), u hạt do dị vật (foreign body granulomata), áp xe và tràn dịch khớp liên quan đến nhiễm trùng huyết hoặc viêm màng hoạt dịch do viêm khớp, hạch to, cũng là bất thường phổ biến có thể biểu hiện dưới dạng sưng nề mô mềm.

Viêm bao hoạt dịch (Inflammed bursae = bursitis)

Viêm bao hoạt dịch thường biểu hiện ổ dịch khu trú và dày thành màng hoạt dịch trong bao hoạt dịch sưng phồng, dịch này dao động bên trong khi đè ép đầu dò siêu âm và tăng cường âm phía sau. Tăng tưới máu (hyperaemia) mô mềm trên Doppler là đặc điểm đi kèm. Dày thành với phì đại màng hoạt dịch cùng với tăng tưới máu trên Doppler. Vách ngăn và thành phần hồi âm bên trong cũng có thể được nhìn thấy. Các trường hợp điển hình là viêm bao hoạt dịch mỏm khuỷu (Olecranon bursitis) (Hình 11), viêm bao hoạt dịch nhị đầu – quay (bicipitoradial bursitis) (Hình 12, 13) và viêm bao hoạt dịch trước bánh chè (prepatellar bursitis) (Hình 14) với biểu hiện sưng nề trên mỏm khuỷu, hố trước xương trụ (antecubital fossa) và nửa dưới của xương bánh chè.

Hình 11. Sưng nề khá to bao phủ mỏm khuỷu. Hình ảnh siêu âm trắng đen, Doppler cắt ngang của viêm bao hoạt dịch mỏm khuỷu. Bao hoạt dịch mỏm khuỷu biểu hiện dày lên với tràn dịch và tăng tưới máu.

Hình 12. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của tụ dịch khu trú với tăng tưới máu ngoại vị nằm dưới đầu xa gân cơ nhị đầu. Viêm bao hoạt dịch nhị đầu – quay.

Hình 13. Hình ảnh siêu âm và MRI cho thấy bao hoạt dịch nhị đầu –  quay sưng phồng xung quanh đầu xa gân cơ nhị đầu.

Hình 14. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler mặt cắt dọc và ngang biểu hiện sự dày lên rõ rệt của bao hoạt dịch trước bánh chè với ổ tụ dịch nhỏ và tăng tưới máu nhẹ. Viêm bao hoạt dịch trước bánh chè.

U hạt do dị vật (Foreign bodies granulommata)

Dị vật (Hình 15) thường biểu hiện dưới dạng cấu trúc tăng âm có bóng lưng phía sau hoặc đa âm phản hồi, tùy thuộc vào bản chất của chúng. Thông thường chúng được bao quanh bởi viền giảm âm, thể hiện sự phù nề phản ứng và mô hạt. Tăng tưới máu được thấy trên Doppler. Nếu bỏ sót chúng có thể dẫn đến hình thành u hạt, nhiễm trùng mô mềm thứ phát với sự hình thành áp xe, lỗ dò (fistula), viêm bao gân có mủ (purulent tenosynovitis) hoặc thậm chí viêm khớp nhiễm trùng (septic arthritis).

Hình 15. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler. Dị vật kim loại tăng âm được thấy, gây ra khối viêm với tăng tưới máu.

Áp xe (Abscesses)

Áp xe (Hình 16) không đều, thường giảm âm, chứa các mảnh vụn (mủ) có hồi âm thay đổi. Mức dịch-dịch có thể được thấy. Tùy thuộc vào thành phần bên trong, áp xe có thể có hồi âm, với lực ép đầu dò nhẹ cho thấy dịch có hồi âm di chuyển bên trong và giúp xác định bản chất dạng nang của chúng. Siêu âm Doppler cho thấy tăng tưới máu trong thành áp xe và mô xung quanh. Siêu âm hướng dẫn chọc kim có thể được yêu cầu cho chẩn đoán và giúp lựa chọn điều trị kháng sinh đúng cách.

Hình 16. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler năng lượng của áp xe và viêm mô tế bào ở mặt sau khuỷu tay. Lưu ý vách ngăn dày và có hồi âm bên trong.

Hạch to (Enlarged lymph nodes)

Hạch to (Hình 17) có thể biểu hiện giống khối u bề mặt. Chúng thường biểu hiện dưới dạng khối đặc giảm âm hình bầu dục với rốn hạch tăng âm ở trung tâm và tăng tưới máu vùng rốn trên siêu âm Doppler. Một sự khác biệt ít xác định rõ giữa vỏ bao giảm âm với rốn hạch tăng âm, tăng kích thước trục ngắn và mất kiểu dòng chảy đặc trưng có thể được thấy trong tình trạng viêm nhiều, ung thư hạch hoặc thâm nhiễm của khối u khác. Trong những trường hợp như vậy, sự khác biệt đáng tin cậy không thể có được bằng siêu âm.

Hình 17. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của tổn thương giảm âm, xác định rõ ở bệnh nhân bị viêm hạch (lympadenitis), phù hợp với hạch viêm to. Lưu ý mạch máu ở rốn hạch trung tâm.

Tràn dịch khớp (Joint effusion)

Tràn dịch khớp liên quan đến nhiễm trùng (Hình 18) hoặc viêm khớp (Hình 19, 20) có thể biểu hiện dưới dạng sưng nề khu trú và có thể dễ dàng phát hiện bằng siêu âm với dịch bao quanh ngoại vi của khớp.

Hình 18. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của tràn dịch khớp khuỷu tay với thành phần bên trong có hồi âm hỗn hợp, được chứng minh là có mủ sau chọc hút.

Hình 19. Siêu âm ở bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp đã được biết trước đó. Siêu âm cho thấy chỗ lõm của khớp bị phồng lên với tràn dịch bên trong. Đè ép đầu dò thấy dịch di chuyển vào lại trong khớp.  

Hình 20. Cùng một bệnh nhân với Hình 19. MRI cho thấy tràn dịch trong phần lõm phía trước của khớp. Xin lưu ý nhiều tinh thể dạng hạt gạo nằm trong dịch.

Hạt Tophi trong bệnh Gout (Gouty tophi)

Hạt Tophi (Hình 21) là sự kết đám (conglomerates) mô mềm của tinh thể axit uric, có thể xuất hiện trong các vùng khác nhau của cơ thể. Bàn tay, bàn chân và khuỷu là vị trí hay gặp. Khi kiểm tra bằng siêu âm, chúng xuất hiện dưới dạng các khối hồi âm không đồng nhất chứa các vùng giảm âm liên quan đến chất lỏng dạng đá phấn (chalky liquid material) bao quanh bởi mô tăng âm. Chúng không biểu hiện tăng tưới máu nhiều. Hiếm khi sự lắng đọng canxi được phát hiện trong khối, có hoặc không có giảm âm phía sau.

Hình 21. Hình ảnh cắt dọc và ngang của khuỷu tay ở bệnh nhân bị Gout. Khối sưng mô mềm được ghi nhận phía sau mỏm khuỷu với hồi âm hỗn hợp, các đốm tăng âm và tăng tưới máu. Hạt Tophi.

Tổn thương dạng đặc (Solid lesions)

U thượng bì vôi hóa (Pilomatrixoma)

U thượng bì vôi hóa (Hình 22) là những khối u bề mặt lành tính hiếm gặp của nang lông. Trên siêu âm, chúng xuất hiện dưới dạng khối tăng âm với bóng lưng phía sau, các mảnh vụn vôi hóa bên trong phản hồi âm lại. Số lượng vôi hóa có thể thay đổi. Viền giảm âm có thể thấy. Trên siêu âm Doppler, có thể thấy dòng chảy ở ngoại vi.

Hình 22. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler của mặt bên khuỷu tay ở bệnh nhân trẻ tuổi cho thấy một khối xác định rõ với các điểm vôi hóa rải rác và bóng lưng phía sau. Lưu ý là có tăng tưới máu ngoại vi nhẹ. Phẫu thuật chứng minh là u thượng bì vôi hóa.

Khối u xơ (Fibromatosis)

U xơ lòng bàn chân (Plantar fibromatosis) (Hình 23) là sự tăng sinh xơ khu trú của cân gan chân (plantar fascia) biểu hiện với đau hoặc nốt giảm âm dưới da không đau ở chính giữa của bàn chân giữa (midfoot) (gồm xương ghe, 3 xương chêm, và xương hộp). Các triệu chứng có thể trầm trọng hơn khi đi bộ.

U xơ gan bàn tay (Palmar fibromatosis) (còn được gọi là bệnh Dupuytren) biểu hiện dưới dạng nốt giảm âm dày lên khu trú của cân gan tay, giữa da và các gân gấp. Chúng có thể tiến triển tới dây xơ gây co rút. Nốt xơ có đường bờ sắc nét và giảm âm, không có bất kỳ mạch máu nào bên trong (Hình 24)

Hình 23. Hình ảnh siêu âm trắng đen và Doppler biểu hiện nốt giảm âm vô mạch liên quan mật thiết với các sợi giữa của cân gan chân. U xơ gan chân (Plantar fibroma).

Hình 24. Hình ảnh mặt cắt trục dài và ngắn của u xơ gan chân giữa gân gấp ngón 4 và da.

U dây thần kinh Morton (Morton’s neuroma)

U dây thần kinh Morton (Hình 25) là giả u, xảy ra kinh điển ở phụ nữ trung niên (hay đi giày cao gót) và được thấy giữa xương đốt bàn chân ngón 2 và 3 ngang mức chỏm xương bàn chân. Trên siêu âm được đặc trưng bởi một khối giảm âm, không nén được. Sờ nắn giữa các đốt xương bàn chân và thực hiện nghiệm pháp động giống như kích chuột (Moulder’ click) có thể giúp loại trừ chẩn đoán.

Khi thăm khám lâm sàng, đau có thể xuất hiện khi thực hiện nghiệm pháp Moulder: Một tay siết chặt hai đầu xương đốt bàn chân vào nhau, tay còn lại ấn mạnh vào khoảng giữa các ngón chân. Trái với hội chứng đau xương bàn chân, vùng nhạy cảm thường nằm trên đầu xương bàn chân; trong u dây thần kinh Morton, đau chỉ khu trú ở mặt gan chân của khoảng giữa 2 ngón chân và dị cảm lan dọc 2 ngón chân bị ảnh hưởng.

Hình 25. U dây thần kinh Morton. Tổn thương giảm âm xác định rõ, không nén được tại khoảng gian đốt thứ 3. Bệnh nhân biểu hiện với dấu Moulder dương tính.

U thần kinh (Neurogenic tumors)

U thần kinh (Hình 26, 27, 28) cũng có thể biểu hiện như khối sưng khu trú dưới da, hầu hết gặp ở các chi. Hai loại mô học chính là schwannomas và neurofibromas (u sợi thần kinh). Siêu âm chẩn đoán các khối u này dựa trên biểu hiện khối giảm âm đặc liên tục trực tiếp với một dây thần kinh ở đầu gần và đầu xa (dấu hiệu đuôi – tail sign). Chúng có thể biểu hiện tăng âm và dòng chảy mạch máu thay đổi trên Doppler. Schwannomas thường lệch tâm với trục thần kinh, trong khi đó neurofibromas đồng tâm hơn và liên quan mật thiết với dây thần kinh gốc. Có thể thấy những thay đổi dạng nang trong u liên quan đến sự tích tụ myxoid.

Hình 26. Schwannoma của dây thần kinh trụ gần khuỷu tay. Hình ảnh trục dài của khối giảm âm liên tục với dây thần kinh (đuôi thần kinh – neural tail) và tăng cường âm.

Hình 27. Cùng một bệnh nhân với hình 26. MRI mặt cắt vành T1W, STIR và sau tiêm thuốc tương phản trên T1W cho thấy rõ khối u bao dây thần kinh tăng tín hiệu liên tục với dây thần kinh trụ.

Hình 28. Schwannoma của dây thần kinh giữa.

Sưng nề sau chấn thương (Post traumatic swelling):

Khối máu tụ (Haematoma)

Khối máu tụ (Hình 29, 30, 31) xuất hiện tùy thuộc vào khoảng thời gian giữa thời điểm chấn thương và lúc siêu âm. Chúng có thể thay đổi từ khối tăng hồi âm bao gồm cục máu đông đặc đến một cấu trúc hồi âm trống hoàn toàn (khối máu tụ hóa lỏng hoàn toàn). Một đặc điểm rất hữu ích của khối máu tụ là hoàn toàn không có dòng chảy của mạch máu bên trong, trừ khi vẫn còn chảy máu đang hoạt động tại thời điểm siêu âm. Tiền sử lâm sàng rất quan trọng cho chẩn đoán (chấn thương, thuốc chống đông), vì đôi khi biểu hiện giống khối áp xe và chọc hút bằng kim được yêu cầu để chẩn đoán.

Hình 29. Hình ảnh trục dài và ngắn của khối máu tụ hóa lỏng của cơ nhị đầu. Không thấy mạch máu.

Hình 30. Bệnh nhân biểu hiện đau trước giữa của bắp chân và sưng nề. Không nhớ rõ có chấn thương hay không. Siêu âm trắng đen và Doppler biểu hiện khối máu tụ có tổ chức. Lưu ý có tăng âm bên trong và tưới máu ngoại vi nhẹ.

Hình 31. Cùng một bệnh nhân với Hình 30. Hình ảnh MRI trên T1W và STIR mặt cắt axial xác định khối máu tụ trước giữa bắp chân.

Tổn thương Morel-Lavallee

Tổn thương Morel-Lavallee (Hình 32) là di chứng sau chấn thương liên quan đến tổn thương degloving, giữa mỡ dưới da và cân cơ sâu bên dưới, nằm phía bên hông. Trên siêu âm biểu hiện dưới dạng ổ tụ dịch giảm âm, có thể đè nén được, không có dòng chảy bên trong và chứa các khối mỡ nhỏ tăng âm. Trong những trường hợp này, tiền sử lâm sàng có thể rất hữu ích.

Hình 32. Bệnh nhân xuất hiện một khối trên mấu chuyển (trochanter) bên trái. Tiền sử trước đó có chấn thương (ngã ngựa). Ổ tụ dịch giảm âm đường bờ rõ, không có mạch máu. Biểu hiện cùng với tiền sử của bệnh nhân và vị trí cổ điển là gợi ý của tổn thương Morel-Lavalee.

Hoại tử mỡ (Fat necrosis)

Trong đụng giập sau chấn thương, hoại tử mỡ có thể xuất hiện (Hình 33), biểu hiện dưới dạng vùng tăng âm chứa các khoảng trống giảm âm liên quan đến mỡ bị nhồi máu.

Hình 33. Hình ảnh trục ngắn và dài biểu hiện sự thay đổi tăng âm không đồng nhất của mỡ dưới da. Bệnh nhân có tiền sử chấn thương trước đó. Hoại tử mỡ sau chấn thương.

Rách gân (Tendon tear)

Chấn thương gân (ví dụ: gân nhị đầu (Hình 34)) có hoặc không kèm theo khối máu tụ hoặc huyết thanh có thể biểu hiện dưới dạng sưng nề khu trú hoặc lan tỏa, thể hiện gốc gân sưng nề, co rút. Tiền sử lâm sàng là điển hình trong những trường hợp này.

Hình 34. Hình ảnh trục dài và ngắn của gân nhị đầu bị đứt ở bệnh nhân nam có biểu hiện sưng nề gần khuỷu tay. Gân co rút lại cùng với tràn dịch lượng trung bình được ghi nhận.

Dị dạng mạch máu (Vascular malformation)

Dị dạng mạch máu và u máu (haemangioma) cũng có thể xuất hiện dưới dạng khối mô mềm. U máu (Hình 35) là khối u nội mạc, chủ yếu xảy ra thời thơ ấu và có thể được phân loại thành u máu mao mạch (capillary) và u máu thể hang (cavernous). Doppler biểu hiện tăng tưới máu rõ rệt, chúng có thể tăng âm hoặc giảm âm liên quan đến các mô xung quanh và chúng thường đè nén được vì máu có thể bị đuổi ra các mạch máu bị giãn. Khi hết đè ép đầu dò, Doppler dòng chảy màu sẽ xuất hiện lại khi mạch máu được làm đầy lại.

Sỏi tĩnh mạch (Phleboliths) khi hiện diện, chúng được thấy dưới dạng điểm có hồi âm trong tổn thương. Dị dạng mạch máu (Hình 36, 37) gồm loạn sản mạch máu và được chia thành dòng chảy cao, dòng chảy thấp và tổn thương dạng mao mạch. Chúng thường được đặc trưng bởi mạng lưới bất thường của các kênh mạch máu, xen kẽ giữa một động mạch nuôi nhô lên (prominent feeding artery) và tĩnh mạch dẫn lưu giãn (dilated draining vein) đôi khi có thể được nhìn thấy.

Hình 35. Tổn thương giảm âm tăng tưới máu dưới da với sỏi tĩnh mạch vôi hóa. U máu.

Hình 36. Khối gồ lên trên ngón trỏ ở bệnh nhân trẻ tuổi. Siêu âm trắng đen, Doppler cho thấy tổn thương giảm âm tăng tưới máu với động mạch nuôi và tĩnh mạch dẫn lưu giãn. Dị dạng mạch máu.

Hình 37. Bệnh nhân khác với dị dạng mạch máu ở giữa đùi. Lưu ý các kênh mạch máu trên siêu âm trắng đen và bản chất mạch máu và động mạch nuôi xuất phát từ các mô mềm nằm sâu trên Doppler.

Kết luận

Siêu âm có thể hỗ trợ đáng kể trong việc phân biệt khối mô mềm lành tính và cũng chẩn đoán phân biệt các tổn thương ác tính với lành tính. Bộ ba siêu âm (trắng đen, Doppler màu, Doppler năng lượng) của khối mô mềm là một phương tiện chính xác để xác định chiến lược điều trị bệnh nhân, hợp lý hóa đồng thời sử dụng hình ảnh MRI.

Tài liệu tham khảo

  1. Sonographic appearances of benign soft tissue lumps and bumps. Hints and tips for differential diagnosis. I. Katsimilis, C. Lord, R. Kulanthaivelu, V. T. Skiadas; Southampton/UK. ECR 2016. DOI: 10.1594/ecr2016/C-0244.

 

 

1 COMMENT

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here